Bay lên sông Châu!

Khi tôi chân đất tới trường làng vào đầu những năm 60 thế kỷ trước, sông Châu đã trong xanh, vạm vỡ lắm. Sông là nơi những con thuyền buồm no gió thảnh thơi mỗi hoàng hôn mang đầy ắp niềm vui về xóm nhỏ.

Niềm vui ấy là thóc gạo lúa khoai, tôm cá. Niềm vui ấy là điệu chầu văn bay vút ngọn tre rồi lại lắng xuống dặt dìu cùng sóng nước khoan hòa. Sông là nơi đêm đến những cô gái đồng chiêm tóc vấn quả na, cổ cao ba ngấn, giặt áo bến sông, trăng sao quên lặn. Xa kia là vầng sáng bồn chồn thương nhớ nơi thị xã Phủ Lý vừa trải qua những ngày bom đạn Mỹ điên cuồng trút xuống, giờ là phút bình yên lắng nghe gió xuân mơn man trên những bờ tre, mái rạ. 
Sau này dù đi đâu về đâu, nỗi nhớ về quê hương xứ sở thường bắt đầu từ con sông hiền hòa, lấm láp tuổi học trò, như trong câu thơ tôi từng viết: “Tôi là con của sông Châu/Mẹ cha chân đất áo nâu nhuộm bùn”. Dòng sông vốn tĩnh lặng, kể cả khi mùa lũ. Sau những trận bão, sông réo gào, sông cuộn siết những con sóng lớn, nhưng rồi chỉ hôm sau khi trời yên biển lặng thì dòng sông trở lại vẻ hiền hòa, đêm đêm gối đầu lên bãi cát hát với những bờ dâu bãi mía. Vậy mà trong giấc mơ ngày ấy tôi thường thấy dòng sông thân thương ấy bay lên. Dòng sông xanh bay lên cùng ráng đỏ sông Mẹ-sông Hồng. Mà hình như lúc người ta trẻ có nhiều thứ bay lên như thế, không chỉ có sông. Ấy là dấu hiệu của sự lớn bắt đầu, sự muốn khẳng định mình. Hồi ấy khẳng định sự lớn bằng cách chúng tôi rủ nhau viết đơn tình nguyện đi bộ đội, vào chiến trường miền Nam đánh Mỹ. Thiếu tuổi thì khai tăng tuổi, thiếu cân thì bỏ đá vào túi quần, tìm mọi cách để được lên đường.  Những năm tháng vượt Trường Sơn, trong những cơn sốt rét bạc lá rừng, giấc mơ bay lên tưởng nhấc bổng người lính trẻ ra khỏi võng.

Bay lên sông Châu
Sông Châu bay ngày ấy là bay trong giấc mơ lãng mạn của tuổi trẻ.

Sông Châu bay ngày ấy là bay trong giấc mơ lãng mạn của tuổi trẻ. Còn bây giờ, sau gần nửa thế kỷ thì dòng sông thơ mộng quê tôi đã bay lên theo một ý nghĩa khác. Dẫu rằng, sông đã hẹp hơn xưa. Hai bên bờ sông ít gặp cảnh tím hoa xoan, trắng hoa mía, diều bay liệng vút không trung và tiếng sáo trúc đằm sâu hương lúa. Đã từng có những cảnh báo đáng lo ngại vì mức độ ô nhiễm trầm trọng của dòng sông này trong thời công nghiệp hóa. Thế nhưng sông Châu bây giờ đã mang một vẻ đẹp khác, vẻ đẹp mang tính biểu tượng của quê hương Hà Nam – mảnh đất cửa ngõ phía nam thủ đô Hà Nội. Sông Châu bay lên tầm cao mới của một tỉnh đồng bằng đang thay áo mới, tấm áo công nghiệp. Mấy chục năm trước, người bạn lính thủ thỉ vào tai tôi  : “Quê cậu có hai thứ nổi tiếng là Trống Đồng và hát chèo, nhưng hát chèo thì cũng chả khác gì Nam Định, Thái Bình”. Ô, tôi cãi, không chỉ có hai “thứ” ấy đâu. Quê mình có tấm giấy thông hành văn hóa là danh tiếng Cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến. Quê mình có hát Dậm Quyển Sơn, hội vật võ Liễu Đôi. Quê mình có tấm Bia Sùng Thiện Diên Linh được dựng từ đầu thời Lý… Đến đây thì anh lính vốn là sinh viên khoa Sử chịu rồi, nhưng anh bảo: Văn hiến đấy, nhưng mà quê cậu nghèo, cũng như quê mình thôi, nhớ quê là nhớ nong nia thúng mủng, gầu sòng, gầu dai, cối đá thủng, than tro bồ hóng… Cái đói nghèo dai dẳng bạc tóc ông thợ cày khi mới qua tuổi bốn mươi. “Ông lão dắt trâu đi bừa là con ông lão ngày xưa đi cầy”.

Bây giờ anh bạn lính ấy là Tiến sĩ sử học, chức vụ to đùng và cũng đã nghỉ hưu. Rời chốn “quan trường” thời cách mạng lại say mê viết sách, mà dòng hồi ức đậm đặc nhất chính là mấy năm cùng ghé vai xây dựng Hà Nam thời tái lập tỉnh vào cuối những năm 90. Gặp nhau nhắc chuyện cũ anh ôm vai tôi lắc hồi lâu: Bây giờ thì khác lắm, khác lắm. Sông Châu bay lên thật rồi. Từ những mảnh đất “chiêm khê mùa thối” nay như có phép lạ mọc lên những nhà máy, công xưởng, bệnh viện, trường học tầm cỡ quốc gia và quốc tế. Cái tỉnh nghèo ngày trước giờ có tới tám khu công nghiệp. Diện tích nhà xưởng và các khu dịch vụ lên tới hơn 2.000 ha. Cuối năm 2019, đã có gần 300 dự án đi vào sản xuất, kinh doanh, lại còn hàng trăm dự án đang chuẩn bị vận hành.  Nông dân áo cổ cồn trắng đã khởi nghiệp trên nền đất phù sa cổ,  đã thay thế nông dân quần nâu áo vá một thời đằng đẵng. Chỉ tính sơ sơ đã có khoảng 60 nghìn người lao động trong các khu công nghiệp.  Mới ngày nào thu nhập bình quân đầu người quãng 10 triệu đồng một năm thì nay con số ấy là gần 50 triệu đồng. Và với mức tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên thì bắt đầu từ năm 2020 này Hà Nam đã có thể tự cân đối được ngân sách – mốc son đối với một tỉnh thuần nông thuở trước từng đứng hàng áp chót về xin “viện trợ” Trung ương.

Vì sao sông Châu bay lên được? Câu hỏi ấy cứ trở qua trở lại trong chúng tôi. Khó có thể cắt nghĩa trong một câu rành rẽ. Trong chiến tranh có những điều vô cùng bí mật nhưng khi cắt nghĩa được rồi bỗng thấy vô cùng đơn giản như nằm trong lòng bàn tay. Chỉ có người trong cuộc, cùng xương thịt với nhân dân của mình, như cách nói của nhà thơ Xuân Diệu thì mới minh xác được cái điều đơn giản ấy. Cuối tháng 12 năm 2018, tại Trụ sở Hội nhà văn Việt Nam, chúng tôi may mắn được trò chuyện với nhà thơ Columbia Fernando Rendón. Từ đất nước còn nhiều gian khó, đất nước luôn bị đe dọa bởi khủng bố và ma túy, F. Rendón rất sung sướng khi đến đất nước Việt Nam yên bình của chúng ta. Ông nói: “Chúng ta kiếm tìm những bí mật trên thế gian này rất khó. Nhưng hôm nay bí mật đó đã tìm thấy – đó là Việt Nam”. Ông không nói đó là bí mật gì. Nhưng đọc thơ ông thì biết: Bí mật đó là con đường đưa ông đến, Việt Nam là con đường. Thật là đơn giản và bất ngờ!

Bây giờ trở lại sự đi lên của Hà Nam. Nhà kinh tế nói, chúng ta đi lên được vì đã phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới một cách bài bản. Nhà văn hóa bàn rằng: “Các ông biết mở cửa đón gió lành, biết cách bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa.  Trong đó cái hay nhất là giữ bền ngọn lửa truyền thống lao động cần cù, chắt chiu, thuần hậu, luôn sáng tạo của người đồng chiêm”. Đó là nguyên nhân và cũng là kết quả. Còn chúng tôi thì nghĩ, từ thế kỷ 18 nhà bác học Lê Quý Đôn đã tổng kết rồi: “Phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi nông bất ổn, phi trí bất hưng”. Có điều con cháu “học” Cụ thế nào mà thôi.  Hà Nam đã học cả bốn điều công-thương-nông-trí. Lĩnh vực nào cũng có những thay đổi căn cơ và làm nên những nhiều “chuyện lạ” trong thập niên thứ hai thế kỷ 21. 

Thử nói sang chuyện “trí”. Khu đại học Nam Cao là một sáng tạo. Vài năm nữa các trường đại học cao đẳng đi vào hoạt động sẽ đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực chuyên môn kỹ thuật trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp không chỉ cho Hà Nam mà cho cả vùng đồng bằng sông Hồng.  Rồi đây một số trường đại học, cao đẳng từ Hà Nội sẽ di dời về đây, cũng là phù hợp quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng tại vùng Thủ đô Hà Nội đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050. Mới rồi hai bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức khánh thành cơ sở hai ở thành phố Phủ Lý. Khỏi phải nói người dân trong khu vực vui sướng đến mức nào.  Bức tranh kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục… thêm những mảng sáng, dẫu còn nhiều việc phải làm, dẫu còn không ít lực cản trong tư duy, trong phương pháp hành động, trong đạo đức, lề lối làm việc của cán bộ, công chức, nhưng con đường đi tới đã định hình rõ nét.

Vì sao sông Châu bay lên được? Mỗi người tùy vào chỗ đứng của mình, tâm thế của mình sẽ có câu trả lời. Chỉ biết rằng sớm xuân nay, xuân Kỷ Hợi gió lành và nắng sáng, con sông quê như mang gương mặt khác, gương mặt thời khoa học công nghệ tiên tiến mà gần đây ta thường nhắc tới: cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Tư. Những bài thơ ca ngợi cảnh sắc làng quê rồi cũng phải khác đi. Nếp sống hiện đại đã tràn qua ao làng, giậu cúc tần tơ hồng vấn vít. Cùng với truyền thống cố kết cộng đồng là thấp thoáng những gì cố chấp, thủ cựu còn rơi rớt trong suy nghĩ và việc làm. Người sông Châu nghĩ mới, người sông Châu làm mới là bài thơ cách tân trên nền truyền thống. 

Quá khứ và hiện tại, nội lực và hội nhập, học hỏi và sáng tạo là những gì đang song hành cùng thời đại, kết tinh những giá trị mới, làm nên một thương hiệu mới. Một quốc gia cũng cần đến việc nhận diện, định vị một thương hiệu. Một Hà Nam cũng đang tạo dựng và khẳng định thương hiệu. Không chỉ dừng lại ở Trống Đồng, ở điệu chầu văn và những di sản văn hóa quý báu của quê hương, vẫn biết đó là cái nền, cái cốt rất cơ bản, là  hồng phúc của con cháu hôm nay. Kết nối cái cá thể với cái chung, vươn tới tầm quốc gia, quốc tế. Chúng ta đã hình thành và từng bước khẳng định thương hiệu. Sông Châu bay lên không là mơ. Trên đôi cánh lớn nội lực, “bay” là hiện thực. Chỉ cần ta say đắm, dào dạt, mặn mà hơn bằng cái duyên quê của chính mình./.
 

Tùy bút của Hải Đường

Nội dung bình luận
Bình luận bài viết
Kết nối thương hiệu